Tháng 12/2017, UNESCO ghi danh "Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ Việt Nam" vào Danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại. Di sản này thuộc về cộng đồng ở chín tỉnh thành miền Trung thời điểm đó, gồm Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Khánh Hoà. Vùng Bình Định cũ là một trong những nơi bài chòi còn sống mạnh nhất.
Bài chòi không chỉ là hội chơi ngày Tết. Từ những câu hô thai giữa sân hội, bài chòi đã phát triển thành một loại hình sân khấu riêng, gọi là ca kịch bài chòi. Bài này giải thích ghi danh UNESCO thật sự nghĩa là gì, di sản gồm những gì, ca kịch bài chòi ra đời và khác hội bài chòi ra sao, và việc giữ gìn di sản đang được làm thế nào.
Ghi danh UNESCO nghĩa là gì, và không nghĩa là gì
Danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại là danh sách UNESCO lập theo Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể. Ghi danh không phải là giải thưởng hay xếp hạng "hay nhất". Đó là sự công nhận rằng một thực hành văn hoá có giá trị với cộng đồng sở hữu nó, còn đang sống, và quốc gia cam kết có kế hoạch bảo vệ.
Với bài chòi, hồ sơ ghi danh nhấn mạnh tính cộng đồng: đây là thực hành của người dân các làng quê miền Trung, kết hợp âm nhạc, thơ ca, diễn xướng, mỹ thuật dân gian và trò chơi, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chủ thể của di sản là cộng đồng và nghệ nhân, không phải một nhà hát hay một tổ chức.
Ghi danh cũng kéo theo trách nhiệm. Nhà nước và địa phương phải báo cáo định kỳ về tình trạng bảo vệ di sản. Nếu di sản suy giảm mà không có biện pháp bảo vệ, uy tín của việc ghi danh bị ảnh hưởng. Vì vậy, sau năm 2017, các tỉnh có di sản, trong đó có Bình Định cũ, đẩy mạnh việc hỗ trợ câu lạc bộ, nghệ nhân và đưa bài chòi vào đời sống thường ngày nhiều hơn.
Bài chòi gồm những thực hành nào
Khi nói "nghệ thuật Bài chòi", người ta thường gộp nhiều dạng thực hành có liên hệ với nhau. Hiểu rõ từng dạng giúp tránh nhầm giữa hội chơi ngày Tết và buổi diễn trên sân khấu:
| Dạng | Nơi diễn ra | Người tham gia | Nét chính |
|---|---|---|---|
| Hội bài chòi | Sân làng, sân đình, bãi đất dịp Tết | Cả cộng đồng, anh Hiệu, ban nhạc | Trò chơi kết hợp hô thai, có chòi, thẻ bài, thưởng |
| Hô bài chòi | Trong hội hoặc biểu diễn riêng | Anh Hiệu, chị Hiệu | Hát câu thai theo điệu dân ca, có thể tách khỏi trò chơi |
| Bài chòi trình diễn, bài chòi chiếu | Sân khấu nhỏ, chiếu trải giữa sân | Vài nghệ nhân | Kể chuyện, diễn một trích đoạn ngắn bằng điệu bài chòi |
| Ca kịch bài chòi | Sân khấu, nhà hát, đoàn nghệ thuật | Diễn viên chuyên nghiệp hoặc không chuyên | Kịch hát có cốt truyện, vai diễn, phục trang |
Bốn dạng này không tách rời nhau. Câu thai và điệu hát của hội là chất liệu cho ca kịch; ngược lại, nhiều diễn viên ca kịch bài chòi cũng đi hô hội ngày Tết. Di sản UNESCO ghi danh bao trùm cả dòng chảy đó, với gốc là thực hành của cộng đồng.
Từ sân hội lên sân khấu: ca kịch bài chòi ra đời thế nào
Theo các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian miền Trung, từ những câu hô thai riêng lẻ, nghệ nhân bài chòi dần kể những câu chuyện dài hơn, có nhân vật, có tình tiết, hát nối các điệu với nhau. Có người hát, có người phụ hoạ, rồi có người đóng vai. Dạng diễn xướng ấy dần rời khỏi trò chơi để thành một tiết mục riêng, diễn trên chiếu, trên sân, rồi lên sân khấu.
Trong thế kỷ hai mươi, ca kịch bài chòi định hình thành một loại hình sân khấu với các đoàn biểu diễn chuyên nghiệp và không chuyên ở nhiều tỉnh miền Trung. Kịch bản có thể lấy từ truyện dân gian, truyện thơ Nôm, hoặc đề tài đời sống. Diễn viên hát bằng các điệu bài chòi, đối đáp, có múa, có phục trang, có dàn nhạc đệm.
Ở vùng Bình Định cũ, ca kịch bài chòi phát triển song song với tuồng, hai loại hình đôi khi chia sẻ nghệ sĩ, nhạc công và khán giả. Nếu tuồng mang vẻ trang trọng, nhiều tích cổ, thì bài chòi gần gũi, mộc mạc, giọng hát mang hơi thở lời ăn tiếng nói của người dân thường. Khán giả nông thôn quý bài chòi vì nghe là hiểu, là thấy chuyện của mình.
Điệu hát bài chòi: nghe quen mà không dễ hát
Âm nhạc bài chòi dựa trên các làn điệu dân ca miền Trung. Những điệu hay được nhắc là xuân nữ, cổ bản, xàng xê, hò quảng, mỗi điệu hợp với một trạng thái: vui tươi, kể chuyện, buồn thương, than thở. Nghệ nhân phối các điệu với nhau theo diễn biến của câu chuyện, chuyển điệu khéo để người nghe không thấy gãy.
Lời hát bài chòi thường theo thể thơ lục bát và song thất lục bát, dễ thuộc, dễ ứng tác. Câu chữ dùng nhiều từ địa phương, nhiều cách nói ví von quen thuộc của người miền Trung. Với người ngoài vùng, nghe lần đầu có thể không bắt kịp từng chữ, nhưng nhịp điệu và giọng hát dễ cuốn người nghe.
Dàn nhạc bài chòi đơn giản: trống, đàn nhị, đàn bầu, sanh, phách, có khi thêm kèn, sáo. Tiếng trống giữ nhịp, đàn nhị dẫn giai điệu. Nhiều nghệ nhân lớn tuổi tự đệm đàn khi hát. Đây là loại hình không cần sân khấu lớn, chỉ cần một khoảng sân và người nghe là có thể diễn.
Những thách thức của việc giữ bài chòi
Người hô giỏi lớn tuổi dần. Nhiều nghệ nhân thuộc hàng trăm câu thai đã cao tuổi. Lớp trẻ học hô bài chòi chưa nhiều, và việc học đòi hỏi thời gian dài.
Câu thai cũ dễ mất. Phần lớn câu thai được truyền miệng. Khi một nghệ nhân qua đời mà chưa ghi lại, kho câu thai của người đó mất theo. Ghi âm, ghi chép là việc cấp thiết.
Đời sống làng quê thay đổi. Người trẻ đi làm xa, Tết về ngắn ngày, các sân đất trống dần thành nhà cửa. Hội bài chòi tự phát ở làng thưa dần.
Nguy cơ "sân khấu hoá" quá mức. Khi bài chòi chủ yếu diễn cho khách xem, phần tương tác cộng đồng, phần ứng tác tại chỗ dễ bị mất, chỉ còn lại tiết mục dàn dựng sẵn.
Kinh phí và chế độ cho nghệ nhân. Các câu lạc bộ phần lớn hoạt động tự nguyện. Duy trì luyện tập, biểu diễn đều đặn cần nguồn hỗ trợ ổn định.
Những việc đang được làm để giữ di sản
Sau khi được ghi danh, các địa phương có di sản bài chòi triển khai nhiều hoạt động: hỗ trợ câu lạc bộ bài chòi ở phường xã, mở lớp truyền dạy cho học sinh, tổ chức hội thi, liên hoan bài chòi, sưu tầm và xuất bản câu thai, ghi hình các nghệ nhân. Một số nghệ nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu, ghi nhận công truyền dạy.
Ở vùng Bình Định cũ, bài chòi được tổ chức thường xuyên hơn trong các dịp lễ, Tết, ở phố đi bộ, khu du lịch, giúp người trẻ và khách du lịch tiếp cận. Các đơn vị nghệ thuật truyền thống của địa phương dàn dựng các vở ca kịch bài chòi mới bên cạnh việc biểu diễn các trích đoạn cũ.
Tuy vậy, giữ di sản không thể chỉ dựa vào chương trình của cơ quan nhà nước. Điều quan trọng nhất là người dân vẫn thích nghe, thích chơi, thích hô bài chòi, để bài chòi còn là một phần đời sống chứ không chỉ là tiết mục biểu diễn. Mỗi lần một người trẻ đứng ra hô thử vài câu thai trong hội làng là một lần di sản được nối thêm một đoạn.
Nghệ nhân: những người giữ kho câu thai
Chủ thể quan trọng nhất của di sản bài chòi là nghệ nhân. Đó là những người hô bài chòi, đàn, hát, diễn trong các hội làng và câu lạc bộ, nhiều người đã gắn bó hàng chục năm. Họ không học ở trường lớp mà học từ cha ông, từ những anh Hiệu đi trước, bằng cách nghe, nhớ, rồi tự hát thử trong hội.
Mỗi nghệ nhân có một kho câu thai riêng, có câu học từ người khác, có câu tự đặt. Họ biết chọn câu nào cho sân hội đông người lớn tuổi, câu nào cho sân hội nhiều thanh niên, câu nào hợp khi trời mưa, khi hội vắng. Kỹ năng ứng tác này không thể học thuộc lòng mà phải tích luỹ qua rất nhiều lần đứng giữa sân.
Việc ghi nhận nghệ nhân, mời họ truyền dạy, ghi âm và ghi chép câu thai của họ là phần cốt lõi của bảo vệ di sản. Nếu bạn có dịp gặp một nghệ nhân bài chòi ở vùng Bình Định cũ, hãy hỏi họ về những câu thai họ nhớ nhất. Nhiều người sẽ hát ngay, và đó là cách nghe di sản sống trực tiếp nhất.
Tỉnh hợp nhất và di sản không đổi chủ
Năm 2025, nhiều tỉnh miền Trung sắp xếp lại đơn vị hành chính. Bình Định hợp nhất vào Gia Lai; một số tỉnh khác trong danh sách chín tỉnh thành có bài chòi cũng sáp nhập với tỉnh lân cận. Điều này không làm thay đổi bản chất di sản. Bài chòi vẫn thuộc về cộng đồng các làng quê miền Trung, vẫn được thực hành ở những nơi nó vốn sống.
Về mặt quản lý, việc báo cáo và bảo vệ di sản sẽ do các tỉnh thành mới đảm nhận theo địa giới mới. Trong đời sống, người dân vẫn gọi bài chòi Bình Định, bài chòi Quảng Nam, bài chòi Phú Yên như trước, vì mỗi vùng có giọng hô, câu thai và cách tổ chức hơi khác nhau.
Với người tìm hiểu, đây là điểm nên nhớ: khi đọc tài liệu trước năm 2025, tên tỉnh trong danh sách là tên cũ. Khi tìm nơi xem bài chòi hôm nay, cần tra theo tên phường xã, tỉnh thành mới. Nhưng câu thai, điệu hát và không khí sân hội thì không đổi theo tên đơn vị hành chính.
Câu hỏi thường gặp
Bài chòi được UNESCO ghi danh khi nào?
Tháng 12/2017, tại kỳ họp của Uỷ ban liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể, "Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ Việt Nam" được ghi vào Danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại.
Di sản bài chòi gồm những tỉnh nào?
Hồ sơ ghi danh gồm chín tỉnh thành miền Trung thời điểm đó: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Khánh Hoà. Sau sắp xếp năm 2025, một số tỉnh đã đổi tên hoặc sáp nhập.
Ca kịch bài chòi khác hội bài chòi thế nào?
Hội bài chòi là trò chơi cộng đồng dịp Tết, có chòi, thẻ bài, anh Hiệu hô thai. Ca kịch bài chòi là loại hình sân khấu có cốt truyện, vai diễn, phục trang, hát bằng các điệu bài chòi, phát triển từ chính lời hô của hội.
Ghi danh UNESCO có làm bài chòi được bảo vệ chắc chắn không?
Không tự động. Ghi danh là sự công nhận kèm cam kết bảo vệ. Di sản chỉ sống khi cộng đồng còn thực hành, nghệ nhân còn truyền dạy và người trẻ còn tham gia.
Muốn học hô bài chòi thì bắt đầu từ đâu?
Có thể tìm câu lạc bộ bài chòi ở phường xã, lớp truyền dạy do địa phương tổ chức, hoặc học trực tiếp từ nghệ nhân. Bắt đầu bằng việc nghe nhiều, thuộc các câu thai quen và làm quen với điệu xuân nữ, cổ bản.