Cảng Quy Nhơn là cảng biển tổng hợp nằm ở phía đông nam thành phố Quy Nhơn, trong vịnh Quy Nhơn được bán đảo Phương Mai che chắn. Đây là cửa biển chính của vùng Bình Định cũ và là điểm ra biển gần nhất của vùng cao nguyên phía tây qua quốc lộ 19. Hàng làm qua cảng chủ yếu là dăm gỗ, đồ gỗ, đá, nông sản, sắn lát, phân bón, hàng container xuất nhập khẩu.
Khi người ta nói "cảng Quy Nhơn", có khi là nói riêng khu bến của doanh nghiệp khai thác cảng mang tên Quy Nhơn ở khu Hải Cảng cũ, có khi là nói chung cả khu vực cảng biển trong vịnh, gồm cả bến Thị Nại và các bến chuyên dùng. Phân biệt hai cách gọi giúp bạn đọc tin tức và hợp đồng vận tải cho đúng.
Bài viết dành cho người dân muốn hiểu cảng của thành phố mình, sinh viên ngành logistics, người tìm việc quanh cảng và chủ hàng lần đầu đưa hàng qua Quy Nhơn. Thông số kỹ thuật như độ sâu luồng, cỡ tàu tối đa thay đổi theo đợt nạo vét và công bố hàng hải, nên luôn kiểm thông báo hiện hành.
Vì sao Quy Nhơn có cảng
Nhìn trên bản đồ địa hình, vịnh Quy Nhơn giống một túi nước được ôm bởi đất liền ở phía tây và bán đảo Phương Mai ở phía đông. Lối vào vịnh nằm ở phía nam, giữa mũi đất thuộc thành phố và đầu bán đảo. Nhờ thế sóng gió ngoài khơi bị chặn bớt, tàu neo đậu và làm hàng trong vịnh an toàn hơn so với bờ biển trống.
Phía trong vịnh là đầm Thị Nại, nơi sông Kôn và sông Hà Thanh đổ ra. Lịch sử ghi nhận khu vực Thị Nại từng là cửa biển quan trọng của vùng từ thời Chăm Pa và các thế kỷ sau, nơi thuyền buôn ghé vào. Cái tên Thị Nại vẫn còn trong tên cầu, tên phường cũ và tên bến cảng hôm nay.
Lý do thứ hai là đường bộ. Quốc lộ 19 bắt đầu từ khu vực cảng, đi qua An Nhơn, Tây Sơn, vượt đèo An Khê lên vùng Gia Lai cũ rồi tiếp tục về hướng biên giới Campuchia. Một cảng có đường lên cao nguyên là lợi thế lớn: hàng nông lâm sản Tây Nguyên xuống đây gần hơn so với đi các cảng khác, và hàng nhập như phân bón, máy móc lên vùng trồng trọt cũng ngắn đường.
Các khu bến trong vịnh Quy Nhơn
Không cần nhớ tên kỹ thuật từng cầu bến, người dân thường phân biệt các khu sau:
- Khu bến Quy Nhơn ở phía đông nam thành phố, gần khu Hải Cảng cũ (nay thuộc phường Quy Nhơn): khu cảng tổng hợp lâu đời nhất, làm hàng rời, hàng bao, container. Đây là nơi đặt điểm đầu quốc lộ 19.
- Khu bến Thị Nại nằm sâu hơn về phía đầm, phục vụ tàu nhỏ hơn và một số loại hàng riêng. Tên gọi gắn với đầm Thị Nại và cầu Thị Nại.
- Các bến chuyên dùng phục vụ nhà máy, kho xăng dầu, hàng đặc thù. Người ngoài ít khi vào, nhưng chúng là một phần của khu cảng.
- Khu Nhơn Hội bên kia đầm, thuộc khu kinh tế Nhơn Hội, được quy hoạch để phát triển thêm bến cảng phục vụ công nghiệp trong khu. Tiến độ và quy mô từng bến cần kiểm theo thông tin chính thức.
- Cảng cá như cảng cá Quy Nhơn là hệ thống riêng cho tàu cá, không thuộc cảng hàng hoá dù nằm chung vịnh.
Cách chia này mang tính phổ thông. Nếu bạn làm hợp đồng vận tải biển, tên bến chính thức và doanh nghiệp khai thác cảng ghi trong hợp đồng, vận đơn mới là căn cứ. Doanh nghiệp khai thác có thể là công ty cổ phần có vốn nhà nước hoặc tư nhân; điều đó ảnh hưởng tới biểu giá và quy trình, không ảnh hưởng tới vị trí địa lý.
Hàng gì đi qua cảng
Cơ cấu hàng thay đổi theo năm, nhưng có những nhóm quen thuộc, phản ánh sản xuất của cả vùng ven biển lẫn cao nguyên.
| Nhóm hàng | Nguồn gốc | Chiều |
|---|---|---|
| Dăm gỗ | Rừng trồng keo, bạch đàn ở miền núi Bình Định cũ, Gia Lai cũ, các tỉnh lân cận | Xuất, chủ yếu đi châu Á |
| Đồ gỗ thành phẩm | Xưởng ở Quy Nhơn, An Nhơn, Tuy Phước… | Xuất bằng container, đi châu Âu, Mỹ, châu Á |
| Đá granite, đá ốp lát | Cơ sở chế biến quanh Phú Tài và vùng lân cận | Xuất |
| Sắn lát, nông sản | Vùng trồng sắn, cà phê, cao su phía tây | Xuất |
| Thủy sản đông lạnh | Nhà máy chế biến ven biển | Xuất bằng container lạnh |
| Phân bón, nguyên liệu, máy móc | Nhập khẩu hoặc từ cảng khác chuyển đến | Nhập, phân phối lên cao nguyên |
Điểm đáng để ý là hàng rời như dăm gỗ, sắn lát chiếm tỷ trọng lớn về khối lượng. Đi qua khu cảng vào mùa cao điểm sẽ thấy đống dăm vàng nhạt cao như đồi, băng chuyền chạy liên tục. Container thì ít ồn ào hơn nhưng có giá trị hàng hoá cao hơn trên mỗi tấn.
Một lô hàng đi qua cảng trải qua những khâu nào
Lấy ví dụ một container đồ gỗ ngoài trời từ xưởng ở An Nhơn xuất đi châu Âu. Trước khi hàng rời xưởng, chủ hàng đặt chỗ với hãng tàu hoặc công ty giao nhận, nhận vỏ container rỗng từ bãi, đóng hàng tại xưởng, niêm phong. Xe đầu kéo chở container ra cảng, qua cổng, hạ bãi chờ xếp tàu.
Song song là khâu giấy tờ: khai hải quan điện tử, chứng nhận xuất xứ nếu khách yêu cầu, chứng từ về nguồn gốc gỗ hợp pháp với thị trường khó tính, hun trùng nếu hàng có bao bì gỗ. Hải quan kiểm tra theo phân luồng; hàng luồng xanh đi nhanh, luồng vàng, đỏ thì cần kiểm hồ sơ hoặc kiểm thực tế.
Khi tàu cập bến, container được cẩu lên tàu theo sơ đồ xếp hàng. Tàu từ Quy Nhơn thường chạy tuyến nội địa ra các cảng lớn hơn hoặc tuyến khu vực, rồi hàng được chuyển tải sang tàu lớn đi xa. Vì vậy thời gian vận chuyển của một lô hàng từ Quy Nhơn có thể dài hơn so với xuất thẳng từ cảng nước sâu lớn, đây là điều chủ hàng cần tính khi chào giá giao hàng cho khách.
Việc làm quanh cảng: không chỉ có bốc xếp
Người ta hay nghĩ làm ở cảng là khuân vác. Thực tế bốc xếp đã cơ giới hoá nhiều: cẩu bờ, cẩu khung, xe nâng, băng chuyền. Công việc trực tiếp ở bến cần người lái thiết bị, công nhân kỹ thuật, kiểm đếm, an toàn lao động. Kèm theo là cả một lớp việc văn phòng: điều độ tàu, kế hoạch khai thác, chứng từ, kế toán, kinh doanh.
Vòng ngoài là các công ty giao nhận, đại lý hãng tàu, đại lý hải quan, vận tải đường bộ, kho bãi. Đây là nơi sinh viên ngành kinh tế, ngoại thương, logistics ở Quy Nhơn thường bắt đầu sự nghiệp. Tiếng Anh chuyên ngành, đọc hiểu vận đơn, hiểu Incoterms là những kỹ năng được hỏi nhiều khi tuyển.
Người lao động nên nhớ rằng môi trường cảng có rủi ro: thiết bị nặng, container treo, xe ra vào liên tục, làm ca đêm. Quy định an toàn như mũ, áo phản quang, khu vực cấm đứng dưới hàng treo không phải thủ tục cho có. Hỏi kỹ về chế độ bảo hiểm, ca kíp, phụ cấp độc hại khi nhận việc là quyền của người lao động.
Một lời khuyên của người làm lâu năm: bắt đầu từ một vị trí nhỏ ở công ty giao nhận hay đại lý tàu biển để hiểu trọn đường đi của một lô hàng, rồi mới chọn chuyên sâu chứng từ, kinh doanh cước hay khai thác bãi. Người nắm được cả chuỗi thường được tin giao việc khó hơn, và đó là con đường thăng tiến phổ biến trong nghề này ở Quy Nhơn.
Cảng và thành phố: chuyện bụi, xe tải và quy hoạch
Cảng nằm sát khu dân cư cũ của Quy Nhơn nên có những va chạm quen thuộc của mọi thành phố cảng. Xe đầu kéo chạy qua đường nội thị vào giờ cao điểm, bụi từ bãi hàng rời khi gió mùa thổi, tiếng ồn ban đêm. Người dân sống ở khu vực gần cảng thường phản ánh chuyện này, và chính quyền đã có những biện pháp như phân luồng giờ chạy xe, yêu cầu che phủ bãi hàng.
Về lâu dài, các quy hoạch đều nói tới việc phát triển thêm bến ở Nhơn Hội để giảm tải cho khu cảng trong thành phố, đồng thời mở rộng đường kết nối cảng với quốc lộ, cao tốc. Những kế hoạch này có thể điều chỉnh, nên người dân và doanh nghiệp nên theo dõi thông tin chính thức thay vì tin đồn về việc "cảng sắp dời" hay "đất gần cảng sắp tăng giá".
Từ góc nhìn người dân, cảng là nguồn việc làm, nguồn thu ngân sách, nhưng cũng là trách nhiệm môi trường. Một thành phố du lịch biển và một thành phố cảng cùng tồn tại trong một vịnh là chuyện cần cân đối, không phải chọn một bỏ một.
Cảng Quy Nhơn so với các cảng lân cận
Dọc dải ven biển miền Trung có nhiều cảng, và người làm hàng thường so sánh trước khi chọn. Phía bắc có cụm cảng Dung Quất ở Quảng Ngãi với luồng sâu, hợp tàu lớn và hàng công nghiệp nặng; xa hơn là cảng Đà Nẵng. Phía nam có các cảng ở Khánh Hoà như Vân Phong, Nha Trang, Ba Ngòi. Mỗi cảng có thế mạnh riêng về độ sâu, tuyến tàu, chi phí và khoảng cách tới vùng hàng.
Lợi thế của Quy Nhơn nằm ở khoảng cách tới vùng nguyên liệu và vùng hàng cao nguyên qua quốc lộ 19, cùng một cộng đồng doanh nghiệp gỗ, đá, thủy sản đã quen làm hàng qua đây nhiều năm. Hạn chế thường được nhắc là luồng vào vịnh có giới hạn độ sâu, nên tàu rất lớn khó vào đầy tải, và tuyến tàu container đi thẳng xa không nhiều bằng các cảng lớn ở hai đầu đất nước.
Vì vậy, chủ hàng thường cân giữa chi phí chạy xe đường dài tới cảng lớn với chi phí chuyển tải nếu xuất qua Quy Nhơn. Không có câu trả lời chung cho mọi lô hàng; nó phụ thuộc loại hàng, khối lượng, thị trường đích và lịch tàu từng thời điểm. Người mới làm nên hỏi báo giá trọn gói từ hai, ba công ty giao nhận để so sánh trước khi chốt phương án.
Với người dân, sự so sánh này giải thích vì sao đôi khi nghe tin hàng của doanh nghiệp trong vùng lại xuất qua cảng khác. Đó là lựa chọn kinh doanh bình thường, không có nghĩa cảng Quy Nhơn đang mất vai trò.
Câu hỏi thường gặp
Cảng Quy Nhơn có đón tàu du lịch không?
Có những thời điểm tàu khách quốc tế ghé Quy Nhơn và neo hoặc cập bến tại khu cảng, sau đó khách đi tham quan thành phố. Tần suất không đều, tuỳ lịch trình của hãng tàu từng mùa, nên nếu cần thông tin bạn kiểm với cảng hoặc ngành du lịch địa phương.
Người dân có vào tham quan cảng được không?
Khu vực cầu bến là khu vực hạn chế, phải có giấy tờ, lý do công việc và tuân thủ quy định an ninh, an toàn. Người dân thường chỉ nhìn cảng từ các điểm cao quanh thành phố hoặc từ cầu Thị Nại, không tự ý đi vào bãi hàng.
Hàng từ Pleiku xuống cảng Quy Nhơn đi đường nào?
Đường chính là quốc lộ 19, qua đèo Mang Yang và đèo An Khê, xuống Tây Sơn, An Nhơn rồi vào Quy Nhơn. Xe container và xe tải nặng chạy tuyến này hằng ngày, nên người đi xe máy, ô tô con cần chú ý khi xuống đèo.
Cảng Quy Nhơn và cảng cá Quy Nhơn có phải một không?
Không. Cảng hàng hoá phục vụ tàu buôn, còn cảng cá phục vụ tàu đánh bắt cập bến bán cá, lấy đá, dầu, nước. Hai nơi cùng nằm trong vịnh Quy Nhơn nhưng do đơn vị khác nhau quản lý và hoạt động theo nhịp khác nhau.
Muốn làm chứng từ xuất nhập khẩu ở Quy Nhơn cần học gì?
Cần nắm nghiệp vụ hải quan, vận đơn, Incoterms, thanh toán quốc tế, cùng tiếng Anh thương mại và kỹ năng dùng phần mềm khai báo. Các trường đại học, cao đẳng trong vùng có ngành kinh tế, logistics; khoá ngắn hạn về khai báo hải quan cũng được nhiều người chọn.
Mùa bão có ảnh hưởng đến hoạt động của cảng không?
Có. Khi có bão hoặc áp thấp nhiệt đới, tàu có thể phải tạm ngừng làm hàng, rời bến tránh trú hoặc vào neo theo chỉ dẫn. Chủ hàng nên tính trước thời gian dự phòng cho các lô hàng xuất vào khoảng tháng 9 đến tháng 12.