Nón ngựa là loại nón truyền thống nổi tiếng của làng Phú Gia, thuộc xã Cát Tường cũ, huyện Phù Cát cũ, vùng Bình Định cũ. Tên gọi bắt nguồn từ việc xưa kia loại nón này được các quan lại, người có địa vị đội khi cưỡi ngựa. Nón có dáng chóp, vành rộng, làm công phu, trang trí cầu kỳ hơn nón lá thường.
Ngày nay nón ngựa không còn là nón đi ngựa của quan, nhưng vẫn được làm, được dùng trong lễ cưới, làm quà và đồ lưu niệm. Bài này kể nguồn gốc nón ngựa, các khâu làm nón, nón trong đời sống, và những khó khăn của việc giữ nghề ở làng Phú Gia hôm nay.
Vì sao gọi là nón ngựa
Theo cách giải thích phổ biến, nón ngựa ra đời để phục vụ quan lại, người có địa vị dưới thời phong kiến. Khi đi công cán bằng ngựa, họ đội loại nón này để che nắng mưa và thể hiện thân phận. Nón vì thế được làm chắc, đẹp, có quai đeo chắc chắn để không rơi khi ngựa chạy.
Cùng với thời gian, nón ngựa không chỉ dành cho quan lại. Nhà khá giả trong vùng cũng dùng nón ngựa trong các dịp quan trọng. Nón trở thành vật thể hiện sự trang trọng, sang trọng, một món đồ quý của gia đình.
Làng Phú Gia ở vùng Phù Cát được biết đến là nơi làm nón ngựa lâu đời và nổi tiếng nhất. Tên "nón ngựa Phú Gia" gắn liền với làng, như các sản vật khác của vùng Bình Định cũ gắn với tên làng, tên chợ. Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, xã Cát Tường cũ thuộc đơn vị mới của tỉnh Gia Lai, nhưng tên làng Phú Gia và nón ngựa vẫn được gọi như cũ.
Nón ngựa khác nón lá thường ở đâu
Nhìn qua, nón ngựa giống nón lá ở dáng chóp, nhưng khi cầm lên sẽ thấy khác biệt rõ. Nón ngựa thường dày dặn, chắc tay, khung nón làm kỹ, lớp lá được chằm dày và đều. Vành nón và chóp nón được hoàn thiện cẩn thận, nhiều chiếc có trang trí bằng chỉ màu, hoa văn ở chóp hoặc lòng nón.
Nguyên liệu chính của nón ngựa gồm tre làm khung, lá làm phần lợp, chỉ để chằm và một số vật liệu trang trí. Loại lá dùng, cách xử lý lá và loại chỉ là bí quyết riêng của làng, giúp nón bền, đẹp và có màu sắc đặc trưng. Một chiếc nón ngựa làm tốt có thể dùng nhiều năm.
Nón lá thường làm nhanh, giá phải chăng, dùng hằng ngày để đi làm đồng, đi chợ. Nón ngựa làm chậm, tốn nhiều công, dành cho dịp trang trọng hoặc làm quà. Hai loại nón phục vụ hai nhu cầu khác nhau, và việc so sánh giúp hiểu vì sao nón ngựa được xem là một sản phẩm thủ công cao cấp của vùng.
Ba khâu làm nón ngựa
Làm một chiếc nón ngựa cần nhiều công đoạn. Theo cách người làng thường kể, nghề được chia thành ba khâu chính, có khi mỗi khâu do một người hoặc một nhóm thợ chuyên đảm nhận:
| Khâu | Công việc chính | Đòi hỏi |
|---|---|---|
| Đương sườn | Chẻ tre, vót nan, đan thành khung nón có dáng chóp và vành | Tay khéo, mắt tinh, khung phải đều, cân, chắc |
| Chằm lá | Xử lý lá, xếp lá lên khung, dùng chỉ chằm cố định từng lớp | Đường kim đều, lá phẳng, không hở, không nhăn |
| Kết, hoàn thiện | Làm chóp, vành, gắn quai, trang trí hoa văn bằng chỉ màu | Thẩm mỹ, tỉ mỉ, biết phối màu, hoa văn |
Mỗi khâu đòi hỏi kỹ năng riêng, thường học từ nhỏ trong gia đình. Ngày trước, cả nhà làm nón: người lớn đương sườn, phụ nữ chằm lá, người có tay nghề cao làm khâu hoàn thiện. Trẻ em được giao việc phụ như xếp lá, xâu chỉ, dần dần học nghề.
Thời gian làm một chiếc nón ngựa dài hơn nhiều so với nón lá thường, tuỳ độ cầu kỳ. Những chiếc nón trang trí phức tạp có thể mất nhiều ngày công. Đây là lý do nón ngựa có giá trị cao và không thể làm hàng loạt bằng tay.
Nón ngựa trong lễ cưới và đời sống
Ở vùng Bình Định cũ, nón ngựa từng là một món sính lễ hoặc quà tặng trong đám cưới. Theo những gì người làng kể, nhà trai có thể sắm nón ngựa tặng cô dâu, như món quà trang trọng thể hiện sự quý trọng. Cô dâu đội nón ngựa trong ngày về nhà chồng là hình ảnh còn được nhiều người lớn tuổi nhắc lại.
Phong tục cụ thể khác nhau theo làng, theo nhà và đã thay đổi theo thời gian. Ngày nay, nhiều đám cưới không còn dùng nón ngựa, nhưng một số gia đình vẫn giữ, coi đó là cách tôn vinh truyền thống quê nhà. Nón ngựa cũng được dùng trong các buổi biểu diễn văn nghệ, trình diễn trang phục truyền thống.
Ngoài cưới hỏi, nón ngựa được làm thành quà tặng, đồ lưu niệm, vật trang trí. Du khách mua nón ngựa như một món đồ thủ công đặc trưng của vùng. Một số nơi làm nón ngựa cỡ nhỏ để treo trang trí, giữ dáng nón truyền thống nhưng thuận tiện mang đi.
Khi dùng nón ngựa làm vật trang trí, nên treo ở nơi khô ráo, tránh nắng chiếu trực tiếp lâu ngày làm lá bạc màu, chỉ giòn. Thỉnh thoảng phủi bụi bằng chổi lông mềm, không lau bằng khăn ướt. Nếu nón bị ẩm, để khô tự nhiên ở chỗ thoáng gió, không hơ lửa hay sấy nóng. Giữ đúng cách, một chiếc nón ngựa có thể giữ dáng và màu nhiều năm, đúng với tiếng là món đồ bền của nghề thủ công vùng Phù Cát.
Nhận biết một chiếc nón ngựa làm kỹ
Người mua lần đầu thường khó phân biệt nón ngựa thủ công với nón trang trí làm nhanh. Vài dấu hiệu có thể giúp. Trước hết là khung: nan tre đều, khung cân, khi đặt nón úp xuống mặt phẳng thì vành nằm đều, không vênh. Cầm lên thấy chắc tay, không ọp ẹp.
Tiếp theo là đường chằm: mũi kim đều, khoảng cách giữa các vòng chỉ đều nhau, lá phẳng, không nhăn, không hở. Soi nón lên ánh sáng, nón làm kỹ thường không thấy lỗ thủng lấm tấm. Phần chóp và vành được hoàn thiện gọn, chỉ trang trí chắc, không bung sợi.
Cuối cùng là hỏi chuyện người bán: nón làm ở đâu, ai làm, mất bao lâu. Người làm nghề thường kể được tường tận từng khâu và tự hào về sản phẩm của mình. Nếu người bán không biết gì về nguồn gốc, hoặc giá rẻ bất thường so với công sức làm một chiếc nón thủ công, nên thận trọng. Mua đúng nón thật vừa có món đồ bền, vừa trả công đúng cho người làm.
Làng Phú Gia: nhịp làm nón trong ngày
Đến làng Phú Gia, bạn có thể thấy những người phụ nữ ngồi chằm nón dưới hiên nhà, những bó nan tre phơi ngoài sân, những chồng khung nón chờ lợp lá. Nghề nón là nghề làm ở nhà, xen kẽ với việc đồng áng và việc nhà. Người làm nón tranh thủ lúc rảnh, buổi trưa, buổi tối, làm từng chút một.
Nhiều người làm nón trong làng là người lớn tuổi, đã làm cả đời. Đôi tay họ thuộc từng đường kim, từng nếp lá. Khi được hỏi, họ thường kể học nghề từ mẹ, từ bà, và nghề đã nuôi gia đình qua những năm khó khăn.
Nếu bạn muốn ghé làng xem làm nón, nên đi cùng người địa phương hoặc hỏi thăm trước, vì đây là nhà dân chứ không phải điểm tham quan có tổ chức. Khi đến, hãy hỏi xin phép trước khi chụp ảnh, và nếu muốn mua nón, mua trực tiếp từ người làm là cách ủng hộ nghề thiết thực nhất.
Những khó khăn của nghề nón ngựa hôm nay
Người làm già đi. Phần lớn thợ giỏi đã cao tuổi. Người trẻ ít theo nghề vì công nhiều, thu nhập không cao so với đi làm công ty, đi làm xa.
Nhu cầu thay đổi. Nón ngựa không còn là vật dụng hằng ngày, chủ yếu là quà tặng, lưu niệm, trang phục biểu diễn. Thị trường hẹp, không ổn định.
Nguyên liệu. Tre, lá đạt chất lượng ngày càng khó kiếm hơn, giá nguyên liệu tăng, ảnh hưởng tới chi phí làm nón.
Cạnh tranh với hàng làm nhanh. Một số sản phẩm nón trang trí làm nhanh, rẻ hơn, khiến người mua khó phân biệt với nón ngựa thủ công thật.
Thiếu kênh bán. Người làm nón phần lớn bán qua người quen, thương lái, ít tiếp cận trực tiếp khách hàng ở xa. Phần chênh lệch giữa giá người mua cuối trả và tiền người làm nhận được thường lớn, khiến nghề khó giữ chân người trẻ.
Khó truyền nghề. Kỹ năng đương sườn, chằm lá, hoàn thiện học bằng cách làm nhiều năm, không có giáo trình. Khi người thợ giỏi nghỉ làm mà chưa kịp truyền lại, một phần kỹ thuật có thể mất theo.
Giữ nghề: đang làm gì và người mua giúp được gì
Địa phương đã có những hoạt động hỗ trợ nghề nón ngựa Phú Gia như công nhận làng nghề, đưa nón ngựa vào các hội chợ, triển lãm, giới thiệu trong các chương trình du lịch. Một số tổ hợp tác, nhóm làm nón được hình thành để cùng nhận đơn hàng, giữ chất lượng và giá.
Một số người trẻ trong làng thử cách làm mới: làm nón ngựa cỡ nhỏ làm quà, kết hợp nón ngựa với trang trí hiện đại, bán qua kênh trực tuyến. Những cách làm này giúp nón tiếp cận khách hàng mới, dù vẫn cần giữ kỹ thuật truyền thống ở các khâu chính.
Người mua có thể giúp nghề theo cách rất đơn giản: mua nón ngựa thủ công thật, hỏi rõ nơi làm, trả đúng công sức người làm, và kể cho người khác nghe về câu chuyện của chiếc nón. Một chiếc nón ngựa treo trong nhà là một mẩu văn hoá vùng Bình Định cũ, và mỗi chiếc nón bán được là thêm một lý do để người làng giữ nghề.
Câu hỏi thường gặp
Nón ngựa Phú Gia ở đâu?
Làng Phú Gia thuộc xã Cát Tường cũ, huyện Phù Cát cũ, tỉnh Bình Định cũ. Từ 1/7/2025, vùng này thuộc tỉnh Gia Lai sau sắp xếp hành chính, tên xã đã thay đổi nhưng tên làng Phú Gia vẫn được dùng.
Vì sao gọi là nón ngựa?
Theo cách giải thích phổ biến, xưa kia loại nón này được quan lại, người có địa vị đội khi cưỡi ngựa đi công cán, nên được gọi là nón ngựa. Nón làm chắc, đẹp, có quai đeo chắc chắn.
Nón ngựa khác nón lá thường thế nào?
Nón ngựa dày dặn, khung làm kỹ, lá chằm dày và đều, có trang trí chỉ màu, hoa văn. Làm mất nhiều công hơn, dùng trong dịp trang trọng hoặc làm quà. Nón lá thường làm nhanh, dùng hằng ngày.
Làm một chiếc nón ngựa mất bao lâu?
Tuỳ độ cầu kỳ, thường mất nhiều thời gian hơn nhiều so với nón lá, những chiếc trang trí phức tạp có thể mất nhiều ngày công. Nón qua ba khâu chính là đương sườn, chằm lá và hoàn thiện.
Mua nón ngựa thật ở đâu để ủng hộ người làm?
Tốt nhất là mua trực tiếp từ người làm hoặc nhóm làm nón ở làng Phú Gia, hoặc nơi bán ghi rõ nguồn gốc. Hỏi rõ nón làm thủ công ở đâu, ai làm, để tránh nhầm với sản phẩm trang trí làm nhanh.