BinhDinh.orgBình Định
Lịch sử và tên gọi

Lịch sử Bình Định qua các thời kỳ: dòng thời gian từ Chăm Pa đến tỉnh Gia Lai mới

Dòng thời gian lịch sử vùng Bình Định cũ: thời Chăm Pa, mở phủ Hoài Nhơn 1471, Đàng Trong, Tây Sơn, nhà Nguyễn, thế kỷ XX, Nghĩa Bình và hợp nhất 2025.

Wide view of the Con River winding through green rice paddies in the An Nhon plain, a distant brick tower on a low hill, water buffalo grazing, overcast morning

Lịch sử vùng Bình Định cũ chia làm năm chặng lớn: thời Chăm Pa với kinh đô Vijaya (trước 1471); thời người Việt khai phá dưới triều Lê và các chúa Nguyễn (1471 – giữa thế kỷ XVIII); thời Tây Sơn (1771 – 1802); thời nhà Nguyễn và Pháp thuộc (1802 – 1945); và thế kỷ XX đến nay, với các mốc Nghĩa Bình (1976 – 1989), tái lập tỉnh (1989) và hợp nhất vào tỉnh Gia Lai từ 1/7/2025.

Bài này đi theo dòng thời gian, mỗi chặng nêu những gì đã chắc chắn trong sử sách, chỗ nào còn nhiều cách hiểu thì nói rõ. Mục đích là cho bạn một khung để đặt các câu chuyện vào đúng chỗ: tháp Chăm thuộc lớp nào, Tây Sơn ở đâu trong tiến trình, vì sao tỉnh lỵ lại ở Quy Nhơn. Những chặng có bài riêng (tên gọi, Nghĩa Bình, Vijaya, Tây Sơn, di sản Chăm) chỉ được nhắc ngắn để không lặp.

Trước thế kỷ XV: vùng đất của Chăm Pa

Trước khi người Việt đến, dải đồng bằng giữa đèo Bình Đê ở phía bắc và đèo Cù Mông ở phía nam là vùng trung tâm của vương quốc Chăm Pa trong nhiều thế kỷ. Ở đây hình thành kinh đô Vijaya, mà sử Việt gọi là Đồ Bàn hay Chà Bàn, nằm ở vùng An Nhơn ngày nay. Các tháp gạch còn đứng trên những ngọn đồi khắp Tuy Phước, An Nhơn, Tây Sơn, Phù Cát là dấu tích vật chất rõ nhất của thời kỳ này.

Trước nữa, vùng ven biển miền Trung có dấu vết cư dân thời đại kim khí mà giới khảo cổ xếp vào văn hoá Sa Huỳnh, và đất Bình Định cũng có những phát hiện thuộc dòng văn hoá này. Tuy vậy, phần lớn những gì người đọc phổ thông cần nhớ về thời xa xưa bắt đầu từ khi Vijaya trở thành trung tâm của Chăm Pa, khoảng đầu thiên niên kỷ thứ hai.

Vijaya giữ vai trò trung tâm cho tới năm 1471. Trong giai đoạn đó, vùng đất trải qua nhiều cuộc chiến với Đại Việt ở phía bắc và với Chân Lạp ở phía tây nam, có lúc bị chiếm đóng ngắn hạn. Chi tiết về các triều vua, các cuộc chiến và vì sao Vijaya quan trọng được kể ở bài riêng về Vijaya – Đồ Bàn; ở đây chỉ cần nhớ rằng phần lớn đất Bình Định cũ từng là lõi của một vương quốc khác trước khi thuộc về Đại Việt.

1471 đến giữa thế kỷ XVIII: người Việt khai phá

Năm 1471, vua Lê Thánh Tông chiếm Đồ Bàn và lập phủ Hoài Nhơn. Sau đó là một thời gian dài người Việt từ Thanh, Nghệ, Thuận Quảng vào khai hoang, lập làng dọc sông Côn, sông Lại Giang, sông Hà Thanh và quanh các đầm ven biển. Nhiều làng ở Bình Định có gia phả ghi tổ tiên vào từ thế kỷ XVI, XVII, phần đông gốc Nghệ An, Thanh Hoá.

Đầu thế kỷ XVII, khi họ Nguyễn cát cứ Đàng Trong, phủ Hoài Nhơn đổi thành phủ Quy Nhơn. Vùng này trở thành kho lúa và nguồn lính quan trọng cho các chúa Nguyễn trong cuộc mở đất tiếp về phía nam. Cửa Thị Nại, cửa Đề Gi, cửa An Dũ là những nơi thuyền buôn ra vào; muối, đường, lúa gạo, gỗ, quế từ miền núi theo sông xuống biển.

Cùng lúc, các tộc người ở vùng núi phía tây như Bahnar, H'rê, Chăm H'roi vẫn giữ vùng cư trú của mình ở An Lão, Vĩnh Thạnh, Vân Canh, quan hệ trao đổi với người đồng bằng qua các chợ phiên ở chân núi. Mối quan hệ đồng bằng – miền núi này về sau rất quan trọng: chính vùng giáp ranh ấy là nơi phong trào Tây Sơn khởi phát.

1771 – 1802: thời Tây Sơn

Năm 1771, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ dấy binh ở vùng Tây Sơn thượng đạo, trên vùng núi phía tây phủ Quy Nhơn. Chỉ trong vài năm, quân Tây Sơn chiếm thành Quy Nhơn, rồi lần lượt đánh bại chúa Nguyễn ở phía nam, quân Xiêm, họ Trịnh ở phía bắc và quân Thanh. Nguyễn Nhạc xưng hoàng đế năm 1778 và đóng đô ở thành Hoàng Đế, xây trên nền Đồ Bàn cũ.

Với vùng đất Bình Định, ba mươi năm ấy là thời kỳ đất của mình trở thành trung tâm một vương triều. Cũng là ba mươi năm chiến tranh liên miên, đặc biệt những năm cuối thế kỷ XVIII khi quân Nguyễn Ánh nhiều lần đánh ra thành Quy Nhơn. Năm 1799 thành bị chiếm và được đổi tên Bình Định; năm 1801, thủy quân Nguyễn Ánh đánh thủy quân Tây Sơn ở đầm Thị Nại, một trận đánh lớn trong cuộc nội chiến.

Năm 1802 nhà Tây Sơn chấm dứt. Lịch sử phong trào, ba anh em, các tướng lĩnh và dấu tích còn lại ở Phú Phong được kể ở mục Tây Sơn và võ cổ truyền. Trong khung thời gian này chỉ cần nhớ: Tây Sơn là chặng ngắn nhưng để lại dấu ấn đậm nhất trong bản sắc của người Bình Định.

1802 – 1945: dưới triều Nguyễn và thời Pháp thuộc

Đầu thế kỷ XIX, nhà Nguyễn xây thành Bình Định ở vùng An Nhơn làm trụ sở. Năm 1832, Bình Định thành tỉnh trong hệ thống tỉnh của Minh Mạng. Đây là giai đoạn ổn định tương đối về hành chính: các phủ huyện An Nhơn, Tuy Phước, Phù Cát, Phù Mỹ, Hoài Nhơn, Bình Khê hình thành và tồn tại khá lâu, đặt nền cho bản đồ hành chính về sau.

Khi Pháp đặt ách cai trị, Bình Định là một trong những nơi có phong trào kháng Pháp mạnh ở Trung Kỳ. Trong phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX, Mai Xuân Thưởng là người lãnh đạo nghĩa quân ở Bình Định, hoạt động nhiều năm trước khi bị bắt và xử tử. Đầu thế kỷ XX, các phong trào chống sưu thuế ở Trung Kỳ cũng lan tới vùng này.

Về kinh tế, thời Pháp thuộc làm thay đổi trọng tâm của tỉnh. Cảng Quy Nhơn phát triển, đường sắt xuyên Việt chạy qua với ga Diêu Trì, tỉnh lỵ dời từ thành Bình Định ra khu vực cảng. Những thay đổi này giải thích vì sao hôm nay trung tâm hành chính nằm ở Quy Nhơn chứ không phải ở An Nhơn, nơi từng là kinh đô của cả Chăm Pa lẫn Tây Sơn.

1945 – 1975: những năm chiến tranh

Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975 là ba mươi năm chiến tranh kéo dài với vùng đất Bình Định. Trong kháng chiến chống Pháp, phần lớn đồng bằng Bình Định nằm trong vùng tự do Liên khu V, nơi tổ chức sản xuất và chi viện cho các chiến trường. Sau năm 1954, nhiều người Bình Định tập kết ra Bắc, gia đình chia cắt suốt hai mươi năm.

Từ cuối thập niên 1950 đến năm 1975, Bình Định là một chiến trường ác liệt. Làng mạc ở Hoài Nhơn, Hoài Ân, Phù Mỹ, Phù Cát, An Lão chịu thiệt hại nặng nề; nhiều gia đình có người hy sinh hoặc mất tích. Những câu chuyện này còn sống trong ký ức người lớn tuổi và trong các nghĩa trang, đài tưởng niệm khắp tỉnh.

Viết về giai đoạn này, trang chỉ nêu những điều được ghi nhận rộng rãi và tránh mọi con số không có nguồn chắc chắn. Nếu bạn tìm hiểu sâu về một trận đánh hay một làng cụ thể, các bảo tàng địa phương, nhà truyền thống ở xã và những người trong cuộc là nguồn đáng tin hơn những bài tổng hợp trên mạng.

Từ 1975 đến nay: bốn mốc hành chính

Sau năm 1975, khung hành chính của vùng đất thay đổi bốn lần lớn. Bảng sau tóm gọn để bạn đặt các sự kiện vào đúng thời điểm:

NămThay đổiÝ nghĩa với người dân
1976Bình Định hợp nhất với Quảng Ngãi thành tỉnh Nghĩa Bình, tỉnh lỵ Quy NhơnGiấy tờ thời kỳ này ghi tỉnh Nghĩa Bình
1986Quy Nhơn lên thành phốĐô thị trung tâm được nâng cấp
1989Tách Nghĩa Bình, tái lập tỉnh Bình ĐịnhTên Bình Định trở lại trên giấy tờ
2011, 2020An Nhơn rồi Hoài Nhơn lên thị xãBình Định có ba đô thị cấp huyện
1/7/2025Hợp nhất vào tỉnh Gia Lai, bỏ cấp huyện, còn 58 phường xãĐịa chỉ mới ghi tỉnh Gia Lai

Năm thị xã An Nhơn, Hoài Nhơn thành lập được nhiều người địa phương nhắc tới vì gắn với việc nâng cấp đô thị. Nếu cần trích chính xác số nghị quyết, bạn nên tra trên cổng văn bản pháp luật của Nhà nước thay vì dựa vào bài tổng hợp.

Nhìn lại cả chặng dài, Bình Định cũ có một nét riêng: trung tâm của vùng đất đã dịch chuyển ba lần, từ kinh thành Chăm Pa ở An Nhơn sang thành Bình Định thời Nguyễn cũng ở An Nhơn, rồi ra cảng Quy Nhơn. Lần hợp nhất 2025 không dời trung tâm đi đâu, mà ngược lại, kéo trung tâm của cả một vùng cao nguyên rộng lớn về bờ biển này.

Muốn thấy tận mắt từng lớp lịch sử thì đi đâu

Lịch sử Bình Định cũ dễ nhớ hơn nhiều khi gắn với một nơi cụ thể. Danh sách dưới xếp theo thời kỳ, mỗi lớp một vài điểm tiêu biểu đã được nhiều người biết, để bạn tự ghép thành hành trình:

  • Lớp Chăm Pa: khu thành Đồ Bàn và tháp Cánh Tiên ở vùng An Nhơn; cụm tháp Bánh Ít trên đồi ở vùng Tuy Phước; Tháp Đôi giữa lòng Quy Nhơn; cụm tháp Dương Long ở vùng Tây Sơn. Phần kiến trúc được giới thiệu kỹ ở mục di sản Chăm Pa.
  • Lớp Tây Sơn: Bảo tàng Quang Trung ở Phú Phong (nay xã Tây Sơn), dấu vết thành Hoàng Đế chồng trên nền Đồ Bàn, đầm Thị Nại nơi diễn ra trận thủy chiến năm 1801.
  • Lớp triều Nguyễn: dấu tích thành Bình Định ở vùng phường Bình Định (An Nhơn cũ), các đình làng có tuổi đời từ thế kỷ XIX rải rác ở An Nhơn, Tuy Phước, Phù Cát.
  • Lớp thời Pháp và đầu thế kỷ XX: những dãy phố cũ, công trình kiến trúc thời thuộc địa quanh khu cảng Quy Nhơn; khu Ghềnh Ráng gắn với nhà thơ Hàn Mặc Tử.
  • Lớp thế kỷ XX: các đài tưởng niệm, nghĩa trang, nhà truyền thống ở các xã; mỗi xã thường có một nơi lưu giữ ký ức chiến tranh của chính địa phương mình.

Khi đi, nên xếp các điểm theo cụm địa lý hơn là theo thời kỳ: vùng An Nhơn – Tây Sơn có cả Đồ Bàn, thành Bình Định, Bảo tàng Quang Trung và tháp Dương Long trong bán kính không lớn; vùng Quy Nhơn – Tuy Phước có Tháp Đôi, Bánh Ít, đầm Thị Nại và Ghềnh Ráng. Một ngày cho mỗi cụm là vừa để vừa xem vừa hiểu.

Câu hỏi thường gặp

Bình Định thuộc về Đại Việt từ khi nào?

Phần lớn vùng đất Bình Định cũ thuộc về Đại Việt từ năm 1471, khi vua Lê Thánh Tông chiếm kinh thành Đồ Bàn của Chăm Pa và lập phủ Hoài Nhơn. Việc khai khẩn và định cư của người Việt diễn ra dần dần trong các thế kỷ sau đó.

Kinh đô Vijaya nằm ở đâu?

Kinh đô Vijaya, sử Việt gọi là Đồ Bàn hay Chà Bàn, nằm ở vùng An Nhơn, phía tây bắc Quy Nhơn ngày nay. Dấu tích thành Đồ Bàn và tháp Cánh Tiên ở khu vực thuộc phường An Nhơn mới, trước đây là xã Nhơn Hậu.

Mai Xuân Thưởng là ai?

Mai Xuân Thưởng là người lãnh đạo phong trào Cần Vương ở Bình Định vào cuối thế kỷ XIX. Ông tập hợp nghĩa quân chống Pháp trong nhiều năm, sau đó bị bắt và bị xử tử. Tên ông được đặt cho nhiều con đường, trường học ở Bình Định và nhiều nơi khác.

Vì sao tỉnh lỵ Bình Định chuyển về Quy Nhơn?

Thời Pháp thuộc, cảng Quy Nhơn và tuyến đường sắt làm khu vực ven biển trở thành trung tâm kinh tế. Bộ máy hành chính dần dời từ thành Bình Định ở An Nhơn ra khu vực cảng, và từ đó Quy Nhơn giữ vai trò tỉnh lỵ cho đến nay.

Tìm tài liệu lịch sử Bình Định ở đâu cho chắc chắn?

Nguồn đáng tin gồm các bộ sử triều Nguyễn đã dịch, sách địa chí tỉnh do cơ quan nhà nước biên soạn, các công trình nghiên cứu khảo cổ đã công bố, bảo tàng tỉnh và Bảo tàng Quang Trung. Bài viết trên mạng nên dùng để định hướng, sau đó đối chiếu với các nguồn này.

Văn hoá Sa Huỳnh có ở Bình Định không?

Văn hoá Sa Huỳnh là văn hoá thời đại kim khí phân bố dọc ven biển miền Trung, và vùng Bình Định cũ cũng có những phát hiện khảo cổ thuộc dòng văn hoá này. Thông tin chi tiết về từng địa điểm nên tra trong các báo cáo khảo cổ đã công bố.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.